Đăng ký nhãn hiệu không trung thực

Có thể nói, cho tới thời điểm hện nay vẫn chưng có một khái niệm mang tính chính thống nào được đưa ra cho vấn đề “Động cơ không trung thực trong quá trình xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá”.

Theo thông lệ quốc tế cũng như theo quy định trong hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ (SHTT) của nghiều quốc gia trên thế giới “Động cơ không trung thực trong quá trình xác lập quyền” được coi là một trong những cắn cứ quan trọng cho việc khiếu nại đề nghị không cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc đề nghị huỷ bỏ hiệu lực của văn bằng bảo hộ nhãn hiệu.

Một số tiêu chí để có thể xác định động cơ không trung thực trong quá trình xác lập quyền như sau:

Không sử dụng nhãn hiệu đăng ký

Bản thân việc không sử dụng nhãn hiệu được đăng ký chưa đủ để kết luận rằng người nộp đơn cho nhãn hiệu đó có động cơ không trung thực.

Theo quy định tại điều 15.3 Hiệp định Trips các quốc gia thành viên có thể coi việc sử dụng như là điều kiện của việc cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tuy nhiên nó không phải là điều kiện cho việc nộp đơn. Kể từ này nọp đơn, người nộp đơn phải đưa ra được các bằng chứng về việc sử dụng nhãn hiệu hoặc có ý định sử dụng nhãn hiệu trong 3 năm nếu không việc đơn đăng ký có thể bị từ chối. Bởi vậy, chỉ riêng việc không sử dụng nhãn hiệu hoặc dự định sử dụng nhãn hiệu trong khoảng thời gian 3 năm chưa đủ để có thể khẳng định rằng việc nộp đơn có động cơ không trung thực. Tuy nhiên căn cứ “không sử dụng” vẫn được đặt ra để xác định việc có hay không có động cơ không trung thực tại thời điểm nộp đơn để bảo vệ quyền của những người nộp đơn sau nhưng thực tế có sử dụng nhãn hiệu (khi người nộp đơn và sau khi được cấp bằng không sử dụng nhãn hiệu). Khi nhãn hiệu dược nộp đơn bởi một chủ thể nào đó mà không sử dụng nhãn hiệu một cách thực tế cho các hoạt động thương mại thì rất có thể việc nộp đơn nào đó là có động cơ không trung thực. Việc nộp đơn như vậy bị coi là “đầu cơ nhãn hiệu” (trademark specu-lators) để thu lợi bất chính.

Dụng ý không trung thực

Nhìn chung, khái niệm “Động cơ không trung thực trong quá trình xác lập quyền” có nội hàm rộng hơn so với khai niệm cạnh tranh không lành mạnh. Để có kết luận một hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại có phải là cạnh tranh không lành mạnh hay không cần phải căn cứ vào thực tế là giữa hai chủ thể – chủ sở hữu nhãn hiệu với bên sử dụng chỉ dẫn thương mại – có tồn tại quan hệ cạnh tranh trực tiếp hay không. Tức là việc tồn tại quan hệ cạnh tranh trực tiếp như vậy dẫn tới việc sử dụng các chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự sẽ khiến cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn về nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm.

Đối với việc xác định “Động cơ không trung thực trong quá trình xác lập quyền”, không nhất thiết phải tồn tại mối quan hệ cạnh tranh trực tiếp giữa các bên có liên quan. Trên thực tế, động cơ không trung thực trong quá trình xác lập quyền có thể được biểu hiện qua nhiều mục đích khác nhai của người nộp đơn. Chẳng hạn như: để ngăn cản việc hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu được đưa vào thị trường mới; hoặc lợi dụng, khai thác một cách bất hợp pháp uy tín thương mại gắn liền với nhãn hiệu của chủ thể kinh doanh khác; hoặc “đầu cơ” nhãn hiệu hàng hoá;…

Một trong những biểu hiện khác của động cơ không trung thực trong quá trình xác lập quyền là nộp đơn một nhãn hiệu cho toàn bộ sản phẩm, dịch vụ trong khi về mặt thực tế cũng như về mặt chiến lược kinh doanh lâu dài, doanh nghiệp chưa có sản xuất hoặc kinh doanh các sản phẩm/dịch vụ đăng ký. Đôi khi động cơ không trung thực của người nộp đơn còn được thể hiện qua mục đích khiến cho chủ sở hữu thực của nhãn hiệu rơi vào những hoàn cảnh bất lợi (ngăn cản hoạt động thương mại hợp pháp liên quan tới nhãn hiệu).

Nhận thức về sự tồn tại của nhãn hiệu

Để có thể đánh giá được việc nộp đơn đăng ký một nhãn hiệu có hay không có động cơ không trung thực, không chỉ xem xét riêng rẽ một yếu tố nào mà phải xem xét các yếu tố trong sự liên hệ với nhau. Chẳng hạn như tại thời điểm nộp hồ sơ, người nộp đơn có nhận thức được về sự tồn tại trước đó của nhãn hiệu hay không hoặc người nộp đơn có chủ định lợi dụng uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu đã tồn tại từ trước hay không.

Việc có nhận thức được hay không có thể được chứng minh thông qua những khía cạnh hoạt động thương mại thực tế chẳng hạn như các bên đều có sản phầm được bày bán tại cùng một hội chợ hoặc người sử dụng  nhãn hiệu trước đã tiến hành quảng cáo sản phẩm mang nhãn hiệu trên một diện rộng hoặc có một sự hợp tác về mặt thương mại trong quá trình hoạt hoạt động của các bên. Tất nhiên nếu như một bên thứ ba đã được sự đồng ý  của người sử dụng trước thì sẽ không bị coi là có động cơ không trung thực.

Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay các trường hợp khiếu nại phản đối cấp bằng hay khiếu nại đề nghị huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu trêm cơ sở người nộp đơn có động cơ không trung thực trong quá trình xác lập quyền còn chưa nhiều.


Thành lập doanh nghiệp - Tư vấn doanh nghiệp
Liên hệ Luật Việt An Online
  • Văn phòng tại Hà Nội
  • Mobile: 09 33 11 33 66
  • Email: info@luatvietan.vn
  • Yahoo Online
  • Yahoo Online
  • Văn phòng tại TP Hồ Chí Minh
  • Mobile: 0979 05 77 68
  • Email: saigon@luatvietan.vn
  • Yahoo Online
  • Yahoo Online
  • Tin tức

    Cà phê hoà tan G7

    Cà phê hòa tan G7 đứng đầu thị trường

    Công ty Nielsen Vietnam vừa công bố nghiên cứu về thị trường cà phê hòa tan năm 2011 và quý I/2012. Cụ thể, trong năm 2011, sản phẩm cà phê hòa tan G7 của Trung...

    Lợi ích của việc đăng ký nhãn hiệu

    Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Do đó lợi ích của việc đăng ký nhãn hiệu được thể...

    Hiệu lực văn bằng bảo hộ Nhãn hiệu

    Theo điều 93 Luật sở hữu trí tuệ quy định: 1. Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam.2. Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ...